DẤU CHÂN TRÊN CÁT
#TruyennganTayDan2025
Nắng xế chiều ở xứ cát chưa bao giờ dễ chịu. Hơi nóng hắt lên từ mặt đất, quẩn quanh trong gió khiến cả không gian như bị nung chảy, thấp thoáng hiện ra mấy cảnh mờ mờ ảo ảo lạ kỳ. Xứ này như một sa mạc thu nhỏ. Hanh khô, bỏng rát và trơ trọi dưới nắng. Thi thoảng gió nổi lên, cuốn theo bụi mù rồi kéo theo từng lớp cát xoáy vòng trông như dải lụa đào đang trườn khắp mặt đất. Nó vờn vào mắt và da của người đàn ông đang lạc lõng giữa triền cát.
Nếu không phải tin lời thằng bé chăn bò, có lẽ giờ này Ba Lãm đang nằm nghỉ trong khách sạn, đợi xe đến rước rồi trở về quê nhà. Vậy mà trời đất xui khiến làm sao, trong đầu Ba Lãm cứ văng vẳng lời thúc giục phải đi. Mất mấy tiếng lội bộ, hỏi thăm hết người này đến người khác cuối cùng ông vẫn bị lạc vào chốn hoang mạc vắng vẻ như bị bỏ quên này. Nói “xứ cát” là cho lớn lao vậy thôi chứ dân bản địa nơi này ai cũng thuộc vanh vách từng gò đồi. Chỉ có kẻ từ xa đến mới thấy nó mênh mang và dữ dội đến thế.
Ba Lãm lê những bước chân nặng nhọc. Mồ hôi thấm qua lớp áo, khô quắt đọng thành từng vệt muối. Đôi mắt đỏ lòm, cay xè vì nắng rát, vẻ mặt bơ phờ đầy mệt mỏi nhưng tâm trí vẫn luôn tìm cách thoát ra. Ông cứ bước, lòng nặng trĩu theo bước chân. Dấu chân ông in sâu xuống mặt cát rồi bị chính cơn gió xóa nhòa. Cứ thế từng bước lún sâu mà chẳng để lại gì. Ba năm ròng rã lần theo từng dấu vết giờ tất cả rã ra như cát.
Ba Lãm lững thững đi về hướng đông, dốc hết sức bò lên một đồi cát cao chừng hai mươi mét. Lúc lên đỉnh đồi, ông ngồi bệt xuống thở hổn hển, hơi thở gấp gáp như đứt quãng. Ở cái tuổi 44 này, thân thể cũng chẳng còn tráng kiện như hồi trẻ, huống chi suốt ba năm qua ông cũng hao gầy mấy phần.
Bỗng từ xa thấp thoáng có bóng người đang chậm rãi lại gần, đầu đội nón lá, vai vác theo một bao tải. Ba Lãm vội huơ tay, cố gọi nhưng cổ họng khô cứng, chỉ phát ra vài tiếng thều thào rồi tan ngay trong làn gió rít.
Một lát sao, người ấy đến gần. Là một ông già râu tóc lởm chởm, da sạm nắng, gương mặt khắc khổ. Ánh mắt ông đục mờ, nhưng lại có gì đó thân quen. Ba Lãm khẽ nhướng mày, lấy tay đẩy nhẹ vành mũ nhìn người đàn ông ăn mặc tả tơi đang đứng trước mặt mình.
- Ờ… đi lạc hả? Ở vùng này, khách lạ vô là cát nó nuốt liền à.
Ông già thả bao tải xuống đất. Giọng đục lại kéo dài chữ cuối như nửa đùa nửa thật, có vài chỗ lẫn giọng miền Trung lạ lẫm, như người cố bắt chước tiếng quê người.
- Tôi… tôi lạc thiệt. Hỏi mấy người dưới kia, họ nói… đi thêm chừng cây số là gặp xóm, ai dè… Mà bác… có nước không? Ở đây… vắng quá.
Ba Lãm cố giữ bình tĩnh, sốc lại tinh thần rồi đảo mắt nhìn quanh.
- Ờ… vắng cho dễ thở. Ở chỗ đông người, bụi người còn khó chịu hơn bụi cát.
Ông già cười móm mém, giọng kéo dài, khàn khàn như chưa nói chuyện với ai lâu rồi. Nói rồi ông cúi xuống lục lọi trong bao tải, lấy ra một chai nước đưa cho Ba Lãm.
- Tui ở đây riết quen, chứ ai mới tới cũng kêu khổ.
- Vậy bác ở đây lâu chưa?
Ba Lãm vừa hỏi vừa tu nước ừng ực. Lần cuối cùng ông uống nước là cách đây hơn hai tiếng trước bằng chai nước duy nhất mà ông mang theo.
- Ờ… Cũng lâu. Không còn nhớ rõ, chỉ biết là năm Kỷ Tỵ.
Ông già nói như đang đếm lại cuộc đời. Đôi mắt lim dim nhìn về phía triền cát xa. Ba Lãm cũng thầm nhẩm trong miệng, nét mặt thoáng qua chút ngạc nhiên. Ông cố lấy lại bình tĩnh nói:
- Hơn ba mươi năm. - Giọng ngập ngừng, ý dò xét. - Vậy bác người vùng ni à?
- Không. Tui gốc ở Quảng Trị. Dạt vô đây… rồi mắc kẹt luôn.
Ba Lãm thoáng khựng lại. Một đợt gió liu riu thổi qua, ông nghe đâu đó trong lòng như có tiếng gọi quen thuộc. Giọng Quảng Trị ấy hơi kéo dài, âm nằng nặng, khô khốc như gió Lào khiến tim ông đập mạnh một nhịp.
Nhác thấy có ánh buồn thoáng hiện lên trong đôi mắt đục ngầu của người đàn ông lạ, Ba Lãm lại thêm chột dạ, vừa mừng lại vừa buồn. Có lẽ ông đồng cảm với phận đời những con người trôi dạt đây đó. Hơn mười năm hành nghề Giám định viên kỹ thuật hình sự, có không ít vụ án mất tích, mà chính Ba Lãm lại là người phụ trách nhận dạng, tìm kiếm nạn nhân. Chứng kiến biết bao vụ việc như thế, những tình tiết hết sức thê lương khiến ông nảy sinh cảm giác dễ dàng đồng cảm với bất kỳ ai mỗi khi nhắc đến hai chữ “lạc xứ”. Huống chi chính Ba Lãm cũng là người trong cuộc. Tìm kiếm thân nhân cho người khác rất giỏi, nhưng với anh trai mình thì hơn ba thập kỷ trôi qua dấu vết chỉ như bóng chim tăm cá. Ba Lãm rít nhẹ hơi, lấy giọng.
- Tui cũng quê Quảng Trị đây. Ở Hải Lăng. Rứa… đồng hương rồi.
- Ờ, rứa à… - Ông già ngước lên nheo mắt nhìn kỹ gương mặt Ba Lãm. - Hải Lăng à… ờ… hắn cũng người Hải Lăng…
Ba Lãm nghe loáng thoáng, định bụng hỏi thêm nhưng lại thôi. Ánh mắt ông cụp xuống như vừa đánh rơi một tia hy vọng nào đó giữa triền cát mênh mông.
- Thôi, chú em theo tui về nhà nghỉ ngơi, rồi tí nữa tôi dẫn ra ngoài xóm. Nhà tui cũng gần đây thôi, qua đồi cát bên kia là thấy.
Ba Lãm gật đầu. Dù sao có người đi cùng vẫn hơn cứ mãi lang thang trên triền cát hoang vu này. Hai người lủi thủi bước đi. Nắng tàn kéo cái bóng họ dài ngoằng ra trên nền cát. Gió lại thổi, cát bay lăn tăn quất vào chân ràn rạt. Bầu trời ngả dần chuyển sắc xám, vài dải mây trắng bồng bềnh tựa khói chiều phủ lên cảnh vật thứ ánh sáng lờ mờ, khiến mọi thứ trở nên nửa thực nửa mộng. Lần đầu trong đời, Ba Lãm thấy cái hoang dã của miền đất này lại có vẻ đẹp đến vậy - một vẻ đẹp lạ lùng, vừa cô độc, vừa tịch mịch như linh hồn ai bị bỏ quên giữa vũ trụ. Ông vừa đi vừa ngoái nhìn như đứa trẻ thấy chốn lạ.
Hồi lâu, họ dừng lại trước một căn nhà nhỏ lọt thỏm giữa triền cát. Phía trước là một hồ nước khá rộng, chừng năm chục mét. Mặt nước lặng như gương phản chiếu rõ rệt nền trời. Nơi này chẳng khác gì một ốc đảo.
Ba Lãm rảo mắt nhìn quanh, xung quanh không còn ngôi nhà nào khác ngoài một căn nhà nhỏ, vách dựng bằng tôn chắp vá, mái lợp cũng là những tôn đã rỉ sét. Dưới mái hiên bên phải căn nhà kê một bộ ván gỗ cũ, trên đó là vài xoong nồi, chén bát. Kề bên là bếp củi đã nguội tro, mùi khói còn vương ngai ngái trong gió.

Khi vào trong, Ba Lãm buông thõng người ngả lưng xuống ván như vừa được hồi sinh. Những tiếng thở gấp có chút hụt hơi xen lẫn âm thanh lạo xạo của ông già đang lúi húi nhóm lửa. Không gian lặng im như tờ cứ thế diễn ra. Ba Lãm bỗng nhớ ra mình vẫn chưa hỏi tên người kia. Ông ngập ngừng cất giọng, khàn khàn vì khát:
- Mà… ông anh… tên chi, hè?
Người đàn ông giật mình vì quên mất vẫn còn có Ba Lãm đang nằm đó. Chắc ông cũng đang bận suy nghĩ chuyện gì trong lòng.
- Tui tên… Nhàn. Đúng rồi, tên Nhàn. Lâu quá không nói chuyện với ai, cái quên luôn.
Cái tên thân thuộc mà Ba Lãm tìm kiếm suốt 30 năm qua nay lại bật lên một cách đơn giản, tự nhiên đến như thế. Ông ngồi bật dậy, vẻ mặt ông tái nhợt đi, ánh mắt hiện lên sự xúc động mãnh liệt, nhìn ông Nhàn trân trân như không thể tin nổi sự thật trước mắt. Ba Lãm hít một hơi sâu cố giữ bình tĩnh rồi vờ hỏi:
- Thế… anh là thứ mấy trong nhà? Người thân anh đâu, răng sống côi cút ri?
Ông Nhàn thoáng sững sờ, cái bật ga xoẹt lửa, cháy lên một ngọn nhỏ nhảy múa trên tay.
- Người thân à… lâu rồi không gặp. Chắc chừ họ cũng yên ổn cả rồi.
Ông Nhàn nói với giọng đượm buồn, đôi tay vẫn thoăn thoắt nhóm lửa hòng đánh lừa thực tại. Ba Lãm nhìn theo, lòng trĩu nặng. Lửa bén lá dừa khô, bập bùng soi rõ từng nếp nhăn trên gương mặt ông Nhàn.
Ba Lãm ngập ngừng giây lát rồi lại cất tiếng tâm sự:
- Thú thật với anh, tui từ ngoải vô đây tìm người quen. Mà hổng nghĩ lại lạc đường kiểu ni.
Ông Nhàn quay sang, hỏi:
- Chú em tìm ai trong cái vùng cát ni?
- Tui tìm anh trai tui. Ngót ba chục năm rồi ổng không về. Mạ tui… nhớ, hỏi hoài.
Bếp lửa cháy rực, khói xám cuộn lên quấn quanh mái hiên rồi tan vào bóng tối. Ba Lãm không quen nên ho sặc sụa, mắt cay xè. Ông Nhàn đặt ấm nước đen kịt lên bếp rồi quay sang bộ ván, chậm rãi rót trà, nhấp một ngụm. Vẻ mặt ông già đời, đượm cay đắng:
- Tui cũng nhớ thằng em tui lắm. Năm đó… giận nó, bỏ nhà đi tới giờ. Muốn về mà… không thể về.
Ba Lãm ngạc nhiên, ngẩng lên hỏi:
- Răng lại không thể về? Anh muốn thì ra ngoài kia bắt xe, một đêm là tới. Hay còn vướng víu, hè?
Ông Nhàn định nói nhưng lại thôi. Ánh mắt ông lờ đi, lẩn tránh. Ông bỗng cười khan, đánh trống lảng:
- Nói hổng chừng… tui là anh của chú em hỉ?
Ông vừa nói vừa cười. Nhưng lát sau lại hỏi lại chính câu mình vừa kể, như thể không nhớ rằng nó đã thoát miệng. Ba Lãm cũng cười theo, tiếng cười méo xệch. Thói quen nghề nghiệp khiến ông tự ghìm mình xuống, cố bình tĩnh mà dò hỏi:
- Rứa em trai anh ngày xưa răng rồi? Có giống tui không?
Ông Nhàn trầm ngâm, ánh mắt xa xăm nhìn vào bếp lửa đang nổ tí tách.
- Hắn nhỏ con, mà nghịch như quỷ. Ham chơi lắm, lần mô tui cũng phải tìm về. Vậy chứ hắn bám theo tui lắm. Đi đâu cũng lon ton chạy theo. Răng mà ghét cho đặng.
Ba Lãm rưng rưng nước mắt, lén quay sang chỗ khác kéo vạt áo đầy bụi cát mà lau vội. Ông nhớ lại thuở bé chạy sang làng bên bẻ trộm ngô bị chủ ruộng bắt được. Lúc đó Hai Nhàn phải lặn lội sang năn nỉ, xin người ta tha cho. Lúc về nhà bị anh đánh cho một trận nên thân. Chuyện đã xưa lắc nay lại được nhắc đến bởi người đàn ông tưởng chừng xa lạ này.
- Lần đó tui lôi đầu về, đánh cho một trận nhưng lỡ tay đánh mạnh quá, hắn thù tui. - Ông Nhàn bất giác cười ngây ngô. - Cái thằng, thích ăn nhất là bánh tu huýt, lần nào dẫn đi chợ đều đòi cho bằng được. Không cho thì hắn lại trốn sang làng bên quậy phá để tôi phải sang chuộc về. Ba tui chết, nhà còn hai anh em nương tựa. Mạ thương dữ lắm, chi cũng chiều. Còn tui chỉ biết lo, sợ hắn khổ.
Ba Lãm ngồi chết lặng. Mỗi câu nói như mũi kim châm vào tim. Nghe người đàn ông vừa xa lạ vừa thân quen này kể chuyện như đang nhắc lại cuộc đời mình, khiến ông không còn nghi ngờ gì nữa, đây nhất định là anh Hai Nhàn của mình. Giọng ông run run:
- Rồi… rồi lần đó răng anh bỏ nhà đi luôn?
Ông Nhàn không đáp lại, chỉ khẽ ngước đầu lên nhìn mái hiên, dáng vẻ suy tư, đượm buồn.
- Năm đó Kỷ Tỵ, thằng em tui đánh nhau với đám làng bên. Lúc tui đến là hắn đã bị đánh te tua, cái áo trắng tinh mạ mới mua cho bị hắn làm rách bươm.
Ba Lãm thoáng cau mày. Kỷ Tỵ ư? Trong trí nhớ ông, chuyện ấy xảy ra vào năm Nhâm Thân, sau Kỷ Tỵ mấy năm lận. Nhưng ông gạt nhanh ý nghĩ ấy. Có lẽ anh nhớ nhầm… ba chục năm rồi, ai mà chẳng lẫn
Ông Nhàn vẫn nói tiếp, giọng trầm như chìm trong tro tàn ký ức:
- Tui tức, không kìm được, quất hắn tới tấp. Hắn đâu có biết trân quý cái áo mạ mua. Chỉ mình hắn có. Tui đâu được đi học nên thèm chết đi được. Vậy mà hắn làm nát như thế. Tôi đánh nó. Hắn lại ghi thù. Lúc về hắn méc mạ Rứa là mạ đánh tui, mà mạ đâu biết tui đau hơn cả.
Ông dừng lại, giọng chùng xuống:
- Giận mạ một, tui giận hắn mười. Rứa rồi bỏ đi một mạch. Riết dạt vào đây kẹt luôn, không thể về. Dẫu muốn mà cát có tha.
Đến đây, Ba Lãm bật khóc. Nước mắt rơi dài trên gương mặt khô khốc, cuốn trôi nỗi canh cánh ông mang suốt ba thập kỷ. Ngày xưa ông chẳng hiểu tại sao anh hai lại bỏ nhà đi mà không để một lời. Mạ đau đớn khóc ngất rồi đổ bệnh nằm liệt cả tháng trời. Bẵng đi một năm không tăm tích, cả nhà mới thôi tìm kiếm. Ai cũng nghĩ anh chỉ bỏ xứ đi làm ăn, chứ không phải biệt vô âm tín. Mạ cực khổ lắm mới lo được cho hai anh em. Có lẽ vì thương thằng út yếu đuối hơn mà bà đã vô tình khiến Hai Nhàn nghĩ mình bị hắt hủi để rồi ra nông nỗi này.
Càng nghĩ, lòng Ba Lãm càng quặn thắt. Hình ảnh mạ năm nào gầy gò, tóc bạc đầu lại chập chờn nhập vào bóng dáng gầy nhom của ông Nhàn trước mặt. Ông không còn kìm được nữa, òa lên nức nở, giọng lạc đi:
- Anh hai…! Em đây nè… Lãm cọt của anh nè anh… hai… ơi!
Ông Nhàn sững người, không kịp hiểu chuyện gì. Rồi như có luồng điện chạy qua tim, ông cũng bật khóc, nhào tới ôm lấy Ba Lãm. Hai người đàn ông đã qua nửa đời người ôm chầm lấy nhau giữa ánh lửa tàn, lệ chan hòa, chẳng ai nói nổi một câu. Bếp lửa gần tắt, ánh sáng yếu ớt của chút củi dăm không đủ làm bừng sáng cuộc tương phùng sau ba thập kỷ. Ông Nhàn kéo áo lau nước mắt, ngậm ngùi bảo:
- Là mày… Lãm cọt ngày mô cứ chạy theo chân anh ri đó hả?
Ba Lãm gật đầu, nước mắt vẫn giàn giụa không nói nên lời nào.
- Đâu, để tao coi mặt mũi mày coi răng rồi.
Ông Nhàn bật dậy vội chạy đi tìm cây đèn dầu, không kịp xỏ dép. Ở cái xó này làm gì có điện, nên bóng đêm như nuốt trọn cả căn nhà. Ngọn đèn dầu nhỏ được thắp lên, leo lét, vàng vọt, soi ra những nếp nhăn chằng chịt trên gương mặt ông Nhàn, vết chân chim hằn sâu nơi đuôi mắt và một vết sẹo nhỏ bên thái dương, chỉ khi nhìn kỹ mới thấy.
Ba Lãm đưa mắt nhìn anh thật lâu. Cơn vui mừng len lỏi khiến ông mỉm cười. Nhiều nét đã đổi thay nhưng sâu trong đôi mắt kia, ánh nhìn quen thuộc vẫn còn nguyên vẹn. Với con mắt của một giám định viên lão luyện, ông nhận ra chính xác từng đường nét thân thuộc ấy.
Ông Nhàn cười, giọng khàn đặc mà rạng rỡ:
- Nhìn coi, em tui coi bộ có mấy phần giống tui hồi còn trẻ hỉ, trời đất ơi!
Vừa nói, ông vừa vỗ vai đứa em liên hồi, nụ cười xen nước mắt. Ba Lãm mếu miệng, ngại ngùng mà cũng chẳng nén nổi niềm vui.
- Rứa chớ… cớ làm răng mày dạt vô tận đây tìm được anh ri hè? - Ông Nhàn hỏi, giọng lẫn tò mò lẫn xúc động.
Ba Lãm khẽ lau nước mắt, nghèn nghẹn đáp:
– Em… tìm anh suốt đó anh hai à. Tưởng anh chết rồi… ai ngờ trời còn thương, cho anh em mình gặp lại. Mà… không kịp nữa rồi.
Ông dừng lại, nước mắt lại trào ra. Hóa ra, người mẹ tần tảo năm nào đã mất cách đây ba năm. Trước lúc nhắm mắt, bà vẫn không ngừng hỏi đứa con trai đi biệt tích giờ ở chốn nào.
- Mạ… mạ dặn em phải tìm anh hai về. Có chết cũng phải tìm về. Anh hai không về, mạ không yên nghỉ được. Mạ thương, mạ nhớ anh hai lắm.
Hai Nhàn nghe tin mạ mất như sét đánh giữa trời hoang vắng. Ông đứng như trời trồng. Đôi mắt đỏ hoe. Hai hàng lệ nóng hổi cứ lăn dài rồi đánh xuống nền đất khô cằn.
- Mạ đâu có ghét bỏ chi anh hai mô. Anh về đi, về với mạ. Mạ đợi anh mòn mỏi đó anh hai ơi.
Thương mạ, hai anh em lại òa khóc. Cuộc trùng phùng lẽ ra phải xúc động vui sướng, nào ngờ lại còn nỗi đau khác trồi lên, không khỏi khiến người ta mủi lòng.
Họ hàn huyên đến khi bụng sôi mới chịu tạm ngưng. Ông Nhàn quay vào bếp nhóm lửa nấu cơm, lòng vừa rối bời vừa mừng rỡ. Trong lúc ấy, Ba Lãm bước chậm quanh nhà, ngắm nghía nơi đã che mưa chắn gió cho anh mình suốt bao năm qua.
Căn nhà nhỏ, lợp bằng tôn mỏng, bên trong trống trải. Bên trái kê một chiếc giường bằng tre ọp ẹp, bên phải để đồ đạc, áo quần đã cũ sờn. Chính giữa là một cái bàn, trên có bát hương, vài chum rượu và một tấm ảnh cũ được đóng khung cẩn thận.
Ba Lãm cầm đèn dầu soi lại gần. Trong ảnh là Hai Nhàn lúc còn trẻ. Ánh mắt ấy, khuôn mặt ấy và điệu cười không lẫn đi đâu được. Bên cạnh còn có một chàng trai khác cũng trạc tuổi, nét mặt hao hao. Ba Lãm biết chắc là người đó là bạn của Hai Nhàn lúc mới lạc vào Bình Thuận.
Ba Lãm cau mày, nhìn kỹ hơn. Trên mặt anh ta có một vết bớt, hình thù tuy lạ mà quen lắm. Hình như Ba Lãm đã thấy ở đâu đó. Ba Lãm khựng lại, trí nhớ lật tung như lật hồ sơ cũ trong đầu. Một thoáng sau, ông sực nhớ ra điều gì, mặt tái đi. Không kịp nghĩ ngợi, ông vội cầm tấm ảnh chạy ra bếp, giọng hối hả:
- Anh hai. Người này… người này là ai? - Không đợi Hai Nhàn đáp, Ba Lãm nói dồn, giọng cương quyết mà run rẩy. - Anh không phải anh Hai Nhàn của tui!
Tiếng “tách” khô khốc vang lên, đôi đũa rơi xuống đất. Ông già sững sờ, mặt tái nhợt.
– Lãm… em nói chi rứa? Tui… tui là Hai Nhàn mà. Đâu phải thằng Sinh. Thằng Sinh hắn chết rồi!
Hai Nhàn đáp tỉnh bơ, cố bào chữa nhưng có vẻ không đủ thuyết phục.
- Không, ông là Sinh. Hai Nhàn mới là anh tui.
- Không phải đâu! - Ông già hét lên, rồi ngã khuỵu xuống. - Tui là Nhàn! Là thằng Nhàn đây! Thằng Sinh chết rồi… biển ăn mất hắn rồi!
Ba Lãm ngồi sụp xuống. Cây đèn dầu rơi khỏi tay, ngọn lửa tắt phụt. Cả căn nhà chìm vào bóng tối đặc quánh.
Ông già gào lên rồi lặp đi lặp lại trong vô thức:
– Tui có em trai… tên Lãm. Mạ tui tên O Mẫn… ở Hải Lăng, Quảng Trị… Tui nhớ mà… tui nhớ hết…
Ông già bắt đầu nói lại những chuyện đã kể trước đó cho Ba Lãm nghe, cứ nói đi nói lại như một cuộn băng cát-xét tự động phát.
Bấy giờ Ba Lãm mới hiểu ra, có nhiều việc, ông già kể lại rất cường điệu. Hóa ra ông ấy cũng chỉ đang học thuộc ký ức của người khác mà người đó chính là Hai Nhàn. Còn ông già đang bị giày vò kia mới chính là Sinh. Qua vết bớt trên mặt của Sinh trong ảnh, nó hoàn toàn khớp với vết sẹo trên thái dương của ông già. Thì ra đó là vết sẹo chứ không phải vết bớt.

Ba Lãm vẫn chưa thôi bàng hoàng, lòng lại càng tò mò hơn làm thế nào mà ông Sinh lại biết rõ từng chi tiết như thế, dường như chẳng có mâu thuẫn nào trong những đoạn ký ức sao chép đó cả.
Ba Lãm bĩnh tĩnh thắp lại ngọn đèn yếu ớt rồi tìm cách trấn an ông Sinh. Sự thật dần phơi bày theo cách không thể ngang trái hơn. Ông Sinh ngồi thừ, giọng vô hồn kể lại:
- Thằng Sinh dạt vào đây gặp tui, kết thân làm bạn. Hắn kể rất nhiều về em trai, về mạ. Gì Hắn cũng nói, tự hào lắm. Mỗi tội hắn không dám về nhà thăm gia đình. Năm đó hai đứa rủ nhau ra biển theo ghe đánh cá, bão vô không kịp tránh. Ghe lât, tui bị sóng đánh ra xa. Thằng Sinh bơi ra cứu tui. Tui thì sống mà hắn thì chìm mất tiêu.
Ông ngừng lại, hai vai run lên, nước mắt chảy ròng ròng. Ba Lãm đoán Sinh mà ông già nói chính là anh hai mình. Có lẽ vì ám ảnh, vì tự trách mà ông Sinh lại mắc chứng hoang tưởng. Mọi thứ đều thay đổi sống hết phần đời còn lại thay cho người bạn đã cứu mạng mình.
Ba Lãm khẽ ôm lấy ông Sinh. Dù rằng không phải Hai Nhàn nhưng ông vẫn cảm giác được sống bên cạnh anh trai trong những phút giây ngắn ngủi.
- Anh Sinh chết rồi. Vậy Hai Nhàn đâu? Trước khi chết Hai Nhàn có nói cái chi không?
Ba Lãm bỗng hỏi dò.
- Hai Nhàn… Hai Nhàn nhờ tui đi tìm em trai. Ở Hải Lăng, Quảng Trị. Rồi… hắn chìm mất.
Ba Lãm tin rằng ông già sẽ nhớ rất rõ lời trăn trối của đồng bạn mình. Khi nghe đáp an, Ba Lãm khẽ gật, môi run lên, cố nuốt nước mắt. Câu trả lời ấy chính là lời xác nhận cuối cùng.
Ba năm trời ông xa vợ con, bỏ công việc lặn lội đi tìm anh trai theo lời trăn trối của mạ. Nay đến lúc sắp sửa bỏ cuộc để về nhà thì lại có ma lực xui khiến, nghe thằng bé chăn bò mách ở trong vùng cát hoang vu này có một người đàn ông nói tiếng Quảng, sống cô độc không thân thích nên mới mò vào. Tưởng đâu ông Trời thương cho gặp lại thân quyến không ngờ lại là một bóng hình sống thay người đã khuất.
Ba Lãm lại ôm ông Sinh vào lòng. Thương mình bao nhiêu lại tội nghiệp cho ông già bấy nhiêu. Những năm qua ông Sinh không thoát khỏi cái bóng ám ảnh của Hai Nhàn, sống một cuộc đời hoang tưởng đến mức hoang đường.
Ngoài trời tối hù. Phía xa đường chân trời có một ánh sao lấp lánh, ẩn rồi hiện, hiện rồi biến mất sau làn mây. Miền cát về đêm thanh vắng, còn lại tiếng gió hòa vào tiếng cát. Và những dấu chân trên cát kia lại bị vùi lấp thêm một lần nữa như chưa từng tồn tại.
An Tịnh
Add new comment